Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự -- Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 206 Views

Công ty tôi là một công ty hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng có trụ sở ở TP. HCM. Ngày 20/8/2016, chúng tôi được nhận làm chủ thầu xây dựng kiêm chủ đầu tư cho một dự án chung cư cao cấp ở Quận 2, TPHCM. Để đảm bảo an toàn và tránh các rủi ro, ngày 25/8/2016, công ty tôi có ký kết một hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm đối với thiệt hại về tài sản tại công ty bảo hiểm A với số tiền bảo hiểm là 500 triệu đồng. Ngày 20/12/2016, khi đang trong giai đoạn thi công công trình, công ty tôi phải bồi thường thiệt hại 600 triệu đồng vì gây ảnh hưởng đến công trình thi công kế bên (gây sụt lún), sự cố này thuộc phạm vi bảo hiểm trong hai hợp đồng trên. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này công ty tôi có quyền yêu cầu công ty A bồi thường lại khoản tiền 600 triệu đồng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, nếu các bên không có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm ký kết ngày 25/8/2016, quý công ty không thể yêu cầu công ty A trả tiền bồi thường toàn bộ khoản tiền 600 triệu đồng mà chỉ nhận được tối đa là 500 triệu đồng dựa vào số tiền bảo hiểm.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (“Nghị định số 180/2007/NĐ-CP”), vì công trình đang thi công của quý công ty gây sụt lún công trình thi công kế bên nên việc quý công ty phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là có cơ sở. Cụ thể:

Điều 15. Xử lý công trình xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư

1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:

a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; Trường hợp các bên không thoả thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại toà án;

b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại.”

Dựa vào những thông tin mà quý công ty cung cấp, quý công ty đã thỏa thuận được và hoàn thành việc bồi thường thiệt hại do công trình thi công kế bên; đồng thời, sự cố gây sụt lún thuộc phạm vi bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm đối với thiệt hại về tài sản mà quý công ty ký kết với công ty A. Do đó, quý công ty có quyền yêu cầu công ty A trả tiền bồi thường căn cứ theo quy định tại Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”)

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Tuy nhiên, Khoản 1, 2, 3 Điều 55 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 có quy định:

Điều 55. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm

1. Trong phạm vi số tiền bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm những khoản tiền mà theo quy định của pháp luật người được bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba.

2. Ngoài việc trả tiền bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải trả các chi phí liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về trách nhiệm đối với người thứ ba và lãi phải trả cho người thứ ba do người được bảo hiểm chậm trả tiền bồi thường theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm.

3. Tổng số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.”

Với quy định trên, công ty A chỉ có nghĩa vụ trả tiền bồi thường và chi phí liên quan khác cho quý công ty trong phạm vi không vượt quá số tiền bảo hiểm (500 triệu đồng). Như vậy, công ty A không có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền 100 triệu đồng vượt quá so với tổng số tiền mà quý công ty phải bồi thường thiệt hại là 600 triệu đồng; quý công ty phải chịu trách nhiệm với khoản tiền này.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.