Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ - Đơn phương chấm dứt hợp đồng của doanh nghiệp bảo hiểm

  • 1 Answer
  • 224 Views

Ngày 28/10/2015, chồng tôi có ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn với Công ty TNHH bảo hiểm A (công ty bảo hiểm A) với mệnh giá bảo hiểm là 500.000.000 đồng. Theo hợp đồng này thì người mua bảo hiểm là chồng tôi và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là tôi. Sau khi mua bảo hiểm, chồng tôi mất vào ngày 19/10/2016. Sau khi chồng tôi mất, tôi đã liên hệ với Công ty bảo hiểm A để được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm đưa ra lý do là chồng tôi khai không trung thực trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm để không chi trả tiền bảo hiểm. Cụ thể như sau:

• Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ đối với hợp đồng ngày 28/10/2015 với trị giá là: 500.000.000 đồng, thì tại câu hỏi số 4 điểm I phía công ty bảo hiểm đã hỏi chồng tôi như sau: “bạn đã bao giờ ...bị nuốt khó, nuốt nghẹn hoặc khó phát âm không? Có bị đổi giọng không?”, thì chồng tôi đã khai để đánh dấu X vào ô “không” và có xác nhận của chồng tôi.

• Tuy nhiên, theo tóm tắt bệnh án của Bệnh viện Đa Khoa đã xác định chồng tôi đã nhập viện vào lúc 21 giờ ngày 28/10/2015 và xuất viện ngày 04/11/2015 với bệnh sử là: Bệnh nhân than nuốt nghẹn 02 (hai) tháng trước, có được điều trị viêm dạ dày.

Do đó, họ cho rằng chồng tôi khai không trung thực trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, vì vậy, công ty bảo hiểm sẽ không trả tiền bảo hiểm.

Các Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này tôi có quyền yêu cầu công ty bảo hiểm A phải có trách nhiệm chi trả quyền lợi bảo hiểm cho tôi đối với hợp đồng ngày 28/10/2015 là: 500.000.000 đồng hay không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, việc công ty bảo hiểm A từ chối trả tiền bảo hiểm cho quý khách là phù hợp. Bởi lẽ, Khoản 1 Điều 19 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định:

Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

1. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp.

…”

Với quy định trên, dựa vào thông tin mà quý khách cung cấp,  (i) tại câu hỏi số 4, của hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2015 đối với câu hỏi: “Trong vòng 6 tháng vừa qua, bạn có phải điều trị bởi một bác sĩ nào không?” chồng quý khách đã đánh dấu X vào ô “Không”, và phía cuối trang này có chữ ký xác nhận của chồng quý khách, nên có cơ sở xác định chồng quý khách đã khai như trên và (ii) căn cứ Bản tóm tắt bệnh án của Bệnh viện đa khoa thì chồng quý khách đã nhập viện lúc 21 giờ 16 phút ngày 28/10/2015 và xuất viện ngày 04/11/2015 với lý do là “nuốt nghẹn”, bệnh sử là “Bệnh nhân than nuốt nghẹn 02 (hai) tháng trước, có được điều trị viêm dạ dày”.

Dựa trên những thông tin trên, công ty bảo hiểm A có đủ cơ sở xác định chồng quý khác đã khai không trung thực đối với câu hỏi số 4 trong Hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2015 của doanh nghiệp bảo hiểm A tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2015. Trong trường hợp này, chồng quý khách đã biết trước về tình trạng bệnh lý nhưng đã cố tình lừa dối công ty bảo hiểm A khi giao kết hợp đồng bảo hiểm. Do đó, hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa công ty A và chồng của quý khách sẽ trở nên vô hiệu theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013, cụ thể như sau:

"Điều 22. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

d) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm vô hiệu được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan".

Theo đó, một khi hợp đồng bảo hiểm của chồng quý khách và công ty bảo hiểm A bị tuyên bố vô hiệu, hệ quả pháp lý tất yếu là sẽ không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập và các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005. Cụ thể, trong trường hợp này, công ty bảo hiểm A sẽ không chi trả tiền bảo hiểm cho quý khách. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm A sẽ chi trả tiền phí bảo hiểm mà chồng quý khách đã đóng trước đó theo quy định của pháp luật.

"Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường".

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.