Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người – Nội dung hợp đồng không rõ ràng

  • 1 Answer
  • 380 Views

Năm ngoái, chồng tôi có mua bảo hiểm nhân thọ cho con (sinh năm 2000) thời hạn 15 năm, mỗi năm đóng 3 triệu đồng phí bảo hiểm. Sau khi chồng tôi mất và không để lại di chúc vào đầu năm nay, tôi có làm đơn xin nhận lại số phí đã đóng một năm qua ở công ty bảo hiểm A nhưng bị công ty A từ chối với lý do tôi có đủ điều kiện về thừa kế (theo Điều 1.1.1 trong hợp đồng bảo hiểm) nên tôi có nghĩa vụ phải đóng thay cho chồng. Do chồng tôi vừa mất và là lao động chính trong gia đình nên tôi không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thừa kế từ chồng tôi. Công ty A đã hủy hợp đồng và không trả lại tiền phí bảo hiểm. Điều 1.1.1 của hợp đồng bảo hiểm có ghi: “Trong trường hợp chủ hợp đồng không phải là người được bảo hiểm, khi chủ hợp đồng chết trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực, người thừa kế hợp pháp của chủ hợp đồng có quyền thừa kế toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng này với điều kiện người thừa kế hợp pháp hội tụ các điều kiện quy định. Nếu các điều kiện trên đây không được đáp ứng, hợp đồng bảo hiểm sẽ mất hiệu lực và công ty bảo hiểm sẽ chỉ trả cho người thừa kế hợp pháp toàn bộ phí bảo hiểm đã thu.” Tuy nhiên, hợp đồng lại không có điều khoản nào rõ ràng quy định điều kiện của người thừa kế hợp pháp nên tôi xin hỏi Luật sư việc làm của công ty A có đúng không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, việc hủy hợp đồng và không trả tiền phí bảo hiểm đã thu cho quý khách của công ty A là không phù hợp.

Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, hợp đồng bảo hiểm giao kết giữa chồng quý khách và công ty bảo hiểm A vào năm ngoái đã có nội dung không rõ ràng. Cụ thể tại Điều 1.1.1 của hợp đồng có quy định:

“Trong trường hợp chủ hợp đồng không phải là người được bảo hiểm, khi chủ hợp đồng chết trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực, người thừa kế hợp pháp của chủ hợp đồng có quyền thừa kế toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng này với điều kiện người thừa kế hợp pháphội tụ các điều kiện quy định. Nếu các điều kiện trên đây không được đáp ứng, hợp đồng bảo hiểm sẽ mất hiệu lực và công ty bảo hiểm sẽ chỉ trả cho người thừa kế hợp pháp toàn bộ phí bảo hiểm đã thu.”

Do chồng quý khách qua đời và không có di chúc nên sẽ chia thừa kế theo pháp luật; quý khách được xác định là người thừa kế theo pháp luật hợp pháp của chồng quý khách, căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 675 và Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005:

            [Điểm a Khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự 2005]

            “Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc.”

[Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005]

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”

Theo đó, quý khách có quyền thừa kế toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm trên nếu hội tụ các điều kiện quy định (Điều 1.1.1 của hợp đồng), tức bao gồm nghĩa vụ tiếp tục đóng phí bảo hiểm trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực. Tuy nhiên, hợp đồng lại không có điều khoản cụ thể quy định điều kiện của người thừa kế hợp pháp cũng như điều kiện để công ty bảo hiểm A chi trả lại toàn bộ phí bảo hiểm đã thu; do đó, Điều 1.1.1 của hợp đồng được xem là điều khoản không rõ ràng và điều khoản này phải được giải thích theo hướng có lợi cho quý khách, căn cứ theo quy định tại Điều 21 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”):

Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.”

Như vậy, khi giải thích theo hướng có lợi cho quý khách đối với Điều 1.1.1. của hợp đồng bảo hiểm nêu trên, quý khách có quyền từ chối thừa kế quyền lợi và nghĩa vụ của chồng quý khách theo hợp đồng. Theo đó, nếu các điều kiện không được đáp ứng, bao gồm cả điều kiện quý khách (người thừa kế hợp pháp của chồng quý khách) nhận thừa kế quyền lợi và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng này sẽ mất hiệu lực và công ty bảo hiểm A sẽ chỉ trả cho quý khách toàn bộ phí bảo hiểm đã thu. Quý khách có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền buộc công ty A phải thực hiện nghĩa vụ theo các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.