Anonymous
Asked May 15, 2017

Luật Hình sự - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • 1 Answer
  • 269 Views

Ông A là hàng xóm của tôi. Trước đây ông A đã hỏi vay tôi 150 triệu để xây nhà. Vì là chỗ quen biết nên tôi đồng ý cho ông A vay và có lập hợp đồng cũng như giấy biên nhận. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền vay từ tôi, ông A lại không xây nhà và có ý định sang nước ngoài cư trú cùng anh ruột của mình. Vì không có ý định trả lại tiền cho tôi nên ông A đã bỏ trốn và mang theo toàn bộ số tiền đã vay. Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này ông A sẽ bị xử lý như thế nào?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, ông A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Cụ thể căn cứ tại Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Theo đó, có thể hiểu, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Dựa vào những thông tin mà quý khách cung cấp, với quy định trên, để kết luận ông A có phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” hay không, cần phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại Điều 254 Bộ luật Hình sự 1999. Cụ thể:

  • Về khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa xâm hại. Trong trường hợp này, khách thể của tội phạm mà ông A đã xâm phạm là quyền sở hữu tài sản của quý khách, cụ thể là số tiền 150 triệu đồng mà quý khách đã cho ông A vay.

  • Về mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài yếu tố khách quan. Trong trường hợp này:

  • Hành vi trái pháp luật
  • Ông A đã có được số tiền 150 triệu đồng một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay tài sản ký kết với quý khách; tuy nhiên, sau khi có được tài sản, ông A đã không thực hiện như cam kết hợp đồng mà đã có hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Hành vi của ông A là hành vi trái pháp luật.

  • Về hậu quả nguy hiểm cho xã hội
  • Quý khách bị thiệt hại về tài sản là toàn bộ 150 triệu đồng đã cho ông A vay.

  • Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội
  • Hành vi trái pháp luật xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian và hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng làm phát sinh hậu quả nguy hiểm. Trong trường hợp này, việc quý khách bị thiệt hại về tài sản, không thu hồi được khoản tiền đã cho ông A vay xuất phát từ nguyên nhân ông A đã có hành vi bỏ trốn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên.

    • Về chủ thể của tội phạm

    Ông A có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999:

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.”

    Trong trường hợp này, ông A được xác định là chủ thể của tội phạm.

    • Về mặt chủ quan của tội phạm

    Ông A biết và buộc phải biết hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho quý khách nhưng vì mong muốn chiếm đoạt tài sản, ông A vẫn thực hiện, việc lạm dụng tín nhiệm của quý khách để chiếm đoạt tài sản vay nằm trong mục đích của ông A. Do đó, trong trường hợp này, lỗi của ông A là lỗi cố ý trực tiếp căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự 1999:

    Điều 9. Cố ý phạm tội

    Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

    1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;”

    Bên cạnh đó, số tiền mà ông A đã chiếm đoạt là 150 triệu đồng, thuộc tình tiết định khung tăng nặng của điều luật nên khi có đủ căn cứ, ông A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và có thể bị phạt tù từ hai (02) năm đến bảy (07) năm, căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999:

    Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

    d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.”

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.