Anonymous
in Intellectual Property Law
Asked May 10, 2017

Luật Sở hữu trí tuệ - Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

  • 1 Answer
  • 345 Views

Tôi là tác giả của tác phẩm kiến trúc A, tác phẩm này do tôi tự thiết kế từ những kiến thức học được ở nước ngoài. Công ty X có nhu cầu sử dụng tác phẩm của tôi để thi công xây dựng công trình từ tác phẩm này nhằm mở cửa tham quan cho khách du lịch.Tôi xin hỏi Luật sư tôi có thể yêu cầu công ty X chia lợi nhuận từ tiền bán vé tham quan công trình không?

Answer 1

Trong trường hợp này, quý khách là tác giả, đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm kiến trúc A nên quý khách hoàn toàn có thể thỏa thuận với công ty X về việc chia lợi nhuận từ tiền bán vé tham quan công trình được thi công từ tác phẩm này.

Quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc

Khoản 7 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ (“Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013”) quy định tác phẩm là “sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

Theo đó, một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả nếu thỏa mãn hai điều kiện: (i) mang tính sáng tạo; và (ii) được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Theo như những thông tin mà quý khách cung cấp, tác phẩm kiến trúc A (i) là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ trực tiếp của quý khách, được tạo ra lần đầu tiên không sao chép từ tác phẩm của người khác; đồng thời (ii) được thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc… nhất định nên được xem là tác phẩm kiến trúc và được bảo hộ quyền tác giả căn cứ theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 14 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tác giả đối với tác phẩm của mình được bảo hộ tự động; do đó, tác phẩm Asẽ được bảo hộ ngay từ khi được thiết kế, căn cứ tại Khoản 1 Điều 6 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013:

Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”

Bên cạnh đó, vì quý khách đã sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm A nên quý khách là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH năm 2013.

Quyền xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc

Từ những phân tích nêu trên, vì quý khách là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm A nên quý khách được xác định là chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc A, căn cứ theo quy định tại Điều 6 Mục I Thông tư liên tịch 04/2003/TTLT-BVHTT-BXD của Bộ Văn hoá-Thông tin và Bộ Xây dựng hướng dẫn về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc (“Thông tư liên tịch 04/2003/TTLT-BVHTT-BXD”). Cụ thể: “Chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc là cá nhân hoặc pháp nhân sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật.”

Căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 2.1.2 và Điểm c Khoản 2.1.3 Điều 2 Mục V Thông tư liên tịch 04/2003/TTLT-BVHTT-BXD, quý khách có thể cho phép công ty X sử dụng tác phẩm kiến trúc A để thi công công trình và có quyền hưởng lợi ích vật chất từ việc này. Theo đó, quý khách và công ty X có thể thỏa thuận về việc quý khách được chia lợi nhuận từ tiền bán vé tham quan công trình.

“2. Quyền của tác giả tác phẩm kiến trúc:

2.1. Đối với tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc:

2.1.2. Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc có các quyền nhân thân có thể được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần cho người khác theo hợp đồng bằng văn bản hoặc cho, biếu tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật, bao gồm:

b. Cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm của mình dưới các hình thức như: xây dựng, sao chép, sao chụp lại tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào.

2.1.3. Tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm kiến trúc có các quyền tài sản được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần cho người khác theo hợp đồng bằng văn bản hoặc cho, biếu, tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật, bao gồm:

c. Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức như: xây dựng, xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm; cho thuê.”

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ

Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, hợp nhất:

  • Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006;
  • Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.