Anonymous
in Insurance Law
Asked May 08, 2017

Luật Kinh doanh bảo hiểm - Tranh chấp về bảo hiểm dân sự

  • 1 Answer
  • 242 Views

Vào ngày 16/8/2016, tôi có nhận vận chuyển 3000 con gà cho ông A theo hợp đồng. Hợp đồng có quy định rõ, bên vận chuyển vẫn phải bồi thường cho bên thuê vận chuyển nếu có sự kiện bất khả kháng xảy ra. Trong quá trình vận chuyên, do mưa to, nước chảy mạnh, thuyền bị va vào chân cầu bị chìm khiến 2780 con gà bị chết, chỉ còn lại 220 con. Tổng thiệt hại được xác định là 80 triệu đồng (đã làm chẵn). Sự kiện tai nạn trên đã được cơ quan Công an huyện xác nhận là sụ kiện bất khả kháng. Trước đó, ngày 1/1/2016, tôi có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thuyền với mức trách nhiệm là 100 triệu đồng tại công ty bảo hiểm X. Theo phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì công ty X nhận trách nhiệm bồi thường về mất mát, hư hỏng hàng hóa, tài sản chuyên chở trên thuyền được bảo hiểm. Tuy nhiên, khi tôi yêu cầu công ty X trả tiền bảo hiểm để bồi thường cho ông A, công ty X lại từ chối và bảo đây là trách nhiệm của tôi. Tôi xin hỏi Luật sư lập luận của công ty X có đúng hay không?

Answer 1

Trong trường hợp này, căn cứ theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như thỏa thuận của các bên trong hợp đồng bảo hiểm, công ty X phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo cam kết.

Trước tiên, xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của quý khách đối với ông A khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 546 Bộ luật Dân sự 2005:

“Trong trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất mát, hư hỏng hoặc bị huỷ hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

Theo đó, mặc dù bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có tai nạn do sự kiện bất khả kháng gây ra, nhưng quý khách và ông A đã có thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển 3000 con gà giao kết vào ngày 16/8/2016 nên thỏa thuận này vẫn phù hợp với quy định nêu trên và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên.

Bên cạnh đó, căn cứ theo hợp đồng bảo hiểm mà quý khách tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu với mức trách nhiệm là 100 triệu đồng tại công ty X. Về nguyên tắc, quan hệ trách nhiệm giữa của các bên được xác định dựa vào hợp đồng bảo hiểm đã nêu rõ điều kiện bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu, thuyền. Theo phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thì “công ty X nhận trách nhiệm bồi thường về mất mát, hư hỏng hàng hóa, tài sản chuyên chở trên thuyền được bảo hiểm”. Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 53 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 có quy định “trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh nếu người thứ ba yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường thiệt hại do lỗi của người đó gây ra cho người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm.” Theo đó, một khi ông A [người thứ ba] yêu cầu quý khách [người được bảo hiểm] bồi thường mất mát 2780 con gà ngày 16/8/2016, công ty X [doanh nghiệp bảo hiểm] có trách nhiệm phải trả tiền bảo hiểm 80 triệu đồng trong phạm vi số tiền bảo hiểm là 100 triệu đồng để bồi thường thiệt hại cho ông A. Cụ thể, Khoản 1 Điều 55 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”), quy định:

Điều 55. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.

1.Trong phạm vi số tiền bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người đượcbảo hiểm những khoản tiền mà theo quy định của pháp luật người được bảo hiểm cótrách nhiệm bồi thường cho người thứ ba.

…”

Căn cứ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 18; Khoản 1 và 3 Điều 28; và Điều 29 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013, quý khách có quyền yêu cầu công ty X trả số tiền trên trong thời hạn một (01) năm, kể từ ngày ông A có yêu cầu bồi thường; và công ty X phải trả số tiền này theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thuyền được ký kết vào ngày 01/01/2016. Nếu hợp đồng không có thỏa thuận thì công ty X phải trả tiền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ yêu cầu của quý khách. Cụ thể:

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm

1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;”

Điều 28. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

1. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

3. Trong trường hợp người thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.”

Điều 29. Thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.”

Ngoài ra, Điểm d Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 có quy định, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận nhưng phải “giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường.”

Tuy nhiên, công ty X không có bất kỳ văn bản giải thích nào cho việc từ chối bồi thường nên hành vi của công ty X là trái với quy định của pháp luật. Quý khách có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc công ty X phải thực hiện nghĩa vụ này nhưng cần lưu ý thời hiệu khởi kiện là ba (03) năm, kể từ thời điểm các bên có phát sinh tranh chấp, căn cứ theo quy định tại Điều 30 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.