Anonymous
in Insurance Law
Asked May 08, 2017

Luật Kinh doanh bảo hiểm - Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

  • 1 Answer
  • 275 Views

Ngày 22/11/2015, công ty bảo hiểm của chúng tôi có ký kết với công ty A hợp đồng bảo hiểm cho trang thiết bị của công ty này ở trụ sở chính, số tiền bảo hiểm là 2 tỷ đồng và hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 1 năm, rủi ro bảo hiểm bảo gồm hỏa hoạn và thiệt hại vật chất. Trong hợp đồng quy định phí bảo hiểm đóng một lần là 10 triệu đồng, thời hạn đóng phí đến hết ngày 31/12/2015, tuy nhiên sau khi chúng tôi có gửi văn bản thông báo, quá hạn công ty A vẫn chưa đóng phí bảo hiểm. Ngày 30/9/2016, công ty A xảy ra hỏa hoạn làm cháy nổ hết các thiết bị. 4 giờ sau đó, công ty này đến công ty chúng tôi xin nộp phí bảo hiểm cho hợp đồng trên nhưng lại đề nghị nhân viên thu phí ghi ngày thu tiền trên hóa đơn là ngày 28/9/2016. Ngày 15/10/2016, công ty A gửi công văn đến công ty yêu cầu bồi thường tổn thất về tài sản đã được bảo hiểm do vụ cháy gây ra. Tôi xin hỏi Luật sư công ty chúng tôi có thể từ chối bồi thường cho công ty A không?

Answer 1

Trong trường hợp này, vì thông tin quý khách cung cấp chưa rõ nên chúng tôi xin chia thành hai (02) trường hợp để tư vấn:

  • Trường hợp 1: Công ty A có yêu cầu xin nộp phí bảo hiểm cho hợp đồng vào ngày 30/9/2016 nhưng quý công ty không đồng ý
  • Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”), trách nhiệm bảo hiểm của quý công ty chỉ phát sinh khi “hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.”

    Theo đó, vì công ty A đã vi phạm nghĩa vụ về nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận của các bên [“hợp đồng quy định phí bảo hiểm đóng một lần là 10 triệu đồng, thời hạn đóng phí đến hết ngày 31/12/2015; tuy nhiên, quá hạn công ty A vẫn chưa đóng phí bảo hiểm”] nên hợp đồng bảo hiểm mà quý công ty và công ty A giao kết đã đương nhiên chấm dứt hiệu lực kể từ sau ngày 31/12/2015, căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013:

    Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

    Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

    ...

    2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

    Như vậy, quý công ty không có nghĩa vụ phải bồi thường cho công ty A bởi tại thời điểm xảy ra vụ hỏa hoạn [30/9/2016], hợp đồng bảo hiểm đã không còn hiệu lực; đồng thời, quý công ty có quyền yêu cầu công ty A đóng đủ phí bảo hiểm đến ngày 31/12/2015 [10 triệu đồng] căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013:

    “Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.”

  • Trường hợp 2: Công ty A có yêu cầu xin nộp phí bảo hiểm cho hợp đồng vào ngày 30/9/2016 và quý công ty đã đồng ý
  • Trong trường hợp này, quý công ty và công ty A đã giao kết một hợp đồng mới do hợp đồng bảo hiểm cũ ký ngày 22/11/2015 đã chấm dứt hiệu lực bởi hành vi vi phạm nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm của công ty A theo phân tích nêu trên. Hợp đồng này phát sinh trách nhiệm bồi thường của quý công ty kể từ thời điểm công ty A đã đóng đủ phí bảo hiểm, tức ngày 30/9/2016. Tuy nhiên:

    (i) công ty A đã có sự lừa dối quý công ty về vụ việc hỏa hoạn nhằm mục đích hưởng tiền bồi thường [ngày 30/9/2016, công ty A xin nộp phí bảo hiểm tại quý công ty nhưng lại đề nghị nhân viên thu phí ghi ngày thu tiền trên hóa đơn là ngày 28/9/2016, tức trước ngày xảy ra thiệt hại]; và

    (ii) vào thời điểm giao kết hợp đồng, tài sản bảo hiểm là trang thiết bị tại trụ sở chính của công ty A đã không còn tồn tại.

    Như vậy, căn cứ theo quy định tại Điểm b, d Khoản 1 Điều 22 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 và Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005, hợp đồng bảo hiểm được giao kết mới ngày 30/9/2016 vô hiệu, quý công ty phải trả lại khoản phí bảo hiểm công ty A đã đóng cho quý công ty sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm mới và không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho tổn thất trang thiết bị của công ty này, cụ thể:

    Điều 22. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

    1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

    b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;

    d) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.”

    [Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013]

    2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

    [Khoản 2 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005]

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Ghi chú

    Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

    • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
    • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
    Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.