Anonymous
in Corporate Law
Asked May 17, 2017

Luật Doanh nghiệp – Chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

  • 1 Answer
  • 224 Views

Công ty cổ phần A được thành lập đầu năm nay, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Công ty có ba cổ đông sáng lập là tôi (sỡ hữu 70.000 cổ phần phổ thông), ông B (sở hữu 54.000 cổ phần phổ thông) và ông C (sỡ hữu 60.000 cổ phần phổ thông). Tháng trước, tôi có nhận chuyển nhượng thêm 12.000 cổ phần phổ thông. Nhưng hiện tại có dự định chuyển nhượng số cổ phần này cho bạn tôi là ông F. Cho tôi hỏi tôi bị hạn chế nào trong việc chuyển nhượng này không?

Answer 1

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ chịu một số hạn chế chuyển nhượng nhất định. Cụ thể là trong thời hạn ba năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập nếu muốn chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông có dự định chuyển nhượng sẽ không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng số cổ phần đó trong trường hợp này.

Tuy nhiên có một lưu ý là các hạn chế về vấn đề chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập sẽ không áp dụng đối với cổ phần phổ thông mà cổ đông sáng lập đó có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, hoặc đối với số cổ phần phổ thông mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty.[1]

[Khoản 3 và Khoản 4 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014]

Điều 119. Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

3. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.

4. Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty.

Trong vụ việc này, quý khách là cổ đông sáng lập của công ty cổ phần A, có dự định chuyển nhượng 12.000 cổ phần phổ thông cho bạn của quý khách là ông F. Có thể thấy, do công ty cổ phần A mới được thành lập từ đầu năm nay nên việc chuyển nhượng cổ phần của quý khách vẫn còn trong thời hạn ba năm luật định. Tuy nhiên, 12.000 cổ phần phổ thông mà quý khách có dự định chuyển nhượng cho ông F là cổ phần phổ thông mà quý khách có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp. Do đó, việc chuyển nhượng 12.000 cổ phần phổ thông này của quý khách không bị ảnh hưởng bởi những hạn chế luật định, quý khách có quyền tự do chuyển nhượng 12.000 cổ phần phổ thông cho bạn quý khách là ông F trong trường hợp này.

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình.Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

 

[1] Khoản 4 Điều 119 Luật Doanh nghiệp 2014

Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.