Anonymous
in Labour Law
Asked May 17, 2017

Bộ luật Lao động - Sa thải người lao động

  • 1 Answer
  • 164 Views

Vợ chồng tôi đều làm công nhân tại công ty X, chúng tôi được công ty cấp 01 phòng trọ thuộc quản lý của công ty. Ngày 13/06/2016, con tôi cùng 2 người khác có hành vi trộm thiết bị của công ty X, bán lấy tiền tiêu xài. Công ty phát hiện, sau đó đã ra quyết định sa thải đối với tôi. Theo như tôi được biết thì trong nội quy công ty không có hình thức kỷ luật sa thải. Cho tôi hỏi quyết định sa thải của công ty với tôi là đúng hay sai?

Answer 1

Tính pháp lý của quyết định sa thải người lao động

Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành thì quyết định sa thải của công ty X là trái quy định của pháp luật.Trong trường hợp này, công ty X không có căn cứ để xử lý kỷ luật lao động đối với quý khách. Bởi, một trong các nguyên tắc quan trọng để xử lý kỷ luật lao động đó là người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động. Cụ thể, Khoản 1 Điều 123 Bộ Luật Lao Động 2012 quy định:

Điều 123. Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động

1. Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:

a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

…”

Trong trường hợp này, dựa trên những thông tin mà quý khách cung cấp, quý khách hoàn toàn không có lỗi, bởi lẽ, người thực hiện hành vi trộm cắp là con của quý khách chứ không phải quý khách.

Đồng thời, để có thể áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với người lao động, trong Nội quy của công ty phải có quy định cụ thể về hình thức kỷ luật này. Căn cứ theo Khoản 3 Điều 128 Bộ luật lao động 2012,việc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong Nội quy lao động là một trong những quy định cấm khi xử lý kỷ luật lao động trong pháp luật lao động.

Điều 128. Những quy định cấm khi xử lý kỷ luật lao động

3. Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động.”

Hậu quả pháp lý của hành vi sa thải trái pháp luật người lao động

Căn cứ theo Điều 42 Bộ Luật Lao Động 2012 và Khoản 3 Điều 33 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao Động, công ty X đã ra quyết định sa thải trái pháp luật đối với người lao động; do đó công ty X có các nghĩa vụ sau:

  • nhận quý khách trở lại làm việc,
  • phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày quý khách không được làm việc;
  • phải bồi thường ít nhất 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  • Ngoài ra, nếu quý khách không muốn tiếp tục làm việc, thì công ty X còn phải trả trợ cấp thôi việc. Ngược lại, trong trường hợp công ty X không muốn nhận lại quý khách và quý khách đồng ý, thì hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất bằng 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng. Đối với trường hợp không còn vị trí, công việc như trong hợp đồng mà quý khách vẫn muốn làm việc, hai bên thương lượng để bổ sung hợp đồng.

    [Khoản 3 Điều 33 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao Động]

    Điều 33. Khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất

    3. Người sử dụng lao động phải khôi phục quyền và lợi ích của người lao động bị vi phạm do quyết định xử lý kỷ luật lao động hoặc quyết định tạm đình chỉ công việc hoặc quyết định bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động. Trường hợp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải trái pháp luật thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện các quy định các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 42 của Bộ luật Lao động.”

    [Khoản 1,2,3 và 4 Điều 42 Bộ luật Lao Động 2012]

    Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

    1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

    2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

    4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà   người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động”

    Chúng tôi hy vọng những phần tư vấn trên sẽ giúp quý khách giải đáp được những thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.